Nói chuyện trên đài SÀI GÒN-HOUSTON (26/9/2019)

                                                            (Đề tài: Tìm hiểu về THIỀN)

 

QL= Thưa quý thính giả,

Đây là chương trình Văn Hóa Việt do Trường Truyền Thống Việt (TTTV) phụ trách, đến với quý thính giả của đài Sài Gòn- Houston (SGH) mỗi thángmột lần, vào ngày thứ Năm của tuần lễ thứ tư. Quý Linh xin kính chào quý thính giả của đài SGH.

Hôm nay, chúng tôi mời BS Nguyễn Quý Khoáng đến với chương trình Văn Hóa Việt trong đề tài= “Tìm hiểu về Thiền”.

Chúng tôi xin mời BS. Khoáng lên tiếng chào quý thính giả của đài SGH.

 

QK= Xin kính chào quý vị thính giả đài Sàigòn-Houston. Tôi rất hân hạnh được tham gia buổi nói chuyện hôm nay.

QL= Thưa quý thính giả, BS. Nguyễn Quý Khoáng đã đến với chương trìnhVăn Hóa Việt nhiều lần. Tuy nhiên, chúng tôi cũng xin được có đôi lời giới thiệu về BS. Nguyễn Quý Khoáng với những quý thính giả mới nghe BS Khoáng lần đầu.

 

Bác sĩ NGUYỄN QUÝ KHOÁNG

- Tốt nghiệp Đại học Y Khoa Saigon khóa 1968-1975 với chuyên khoa X Quang.

- Được bổ nhiệm làm việc tại bệnh viện Đa Khoa Tỉnh Tây Ninh từ 1977 đến 1983. Làm việc tiếp tục tại bệnh viện An Bình (là bệnh viện Triều Châu, Saigon, trước 1975) từ 1983 đến 2009 với chức vụ lả Trưởng Khoa X Quang đồng thời là chủ nhiệm bộ môn Chẩn đoán hình ảnh (là tên mới của ngành X Quang) Đại học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch, Saigon.

- Được mời sang Pháp làm giảng sư X Quang (Maitre de conférences invité en Radiologie) tại Đại học Y khoa Nancy những năm 1997, 1998 và 1999.

- Nghỉ hưu năm 2009 nhưng tiếp tục làm việc tại Trung tâm Chẩn đoán Y Khoa Medic và giảng dạy tại các viện, trường cho đến năm 2013.

- Định cư tại Hoa Kỳ, bang North Carolina năm 2013 theo diện đoàn tụ gia đình.

- Từ năm 2014, lập một Website về Chẩn đoán hình ảnh < www.cdhanqk.com > để truyền đạt các kiến thức chuyên môn X Quang tới các đồng nghiệp và sinh viên Y khoa cùng các kỹ thuật viên X Quang.

QL=Thưa quý thính giả, vừa rồi là phần giới thiệu BS. Nguyễn Quý Khoáng. Chúng tôi xin bắt đầu đề tài của chương trình hôm nay là “Tìm hiểu về Thiền.”

1/QL= Trước hết, xin BS cho biết định nghĩa của chữ Thiền, giải thích Thiền là gì?

 QK= Theo các từ điển Oxford, Merriam-Webster, Cambridge, Thiền được định nghĩa là phương pháp rèn luyện tâm dựa trên sự tập trung có chủ ý vào một đối tượng hoặc những khoảnh khắc xảy ra trong cuộc sống để tâm an tịnh. Khi tâm an tịnh thì trí tuệ sẽ phát triển giúp hành giả có cái nhìn chính xác và thấu đáo hơn về những sự vật để từ đó đưa ra những phản ứng phù hợp.

 Thiền là phiên âm của từ Phạn ngữ Dhyana, trọn chữ phải gọi là Thiền na. Trong tiếng Phạn, từ Dhyana có nghĩa là “đốt cháy”, nên Thiền là một đường lối đưa hành giả tới một tâm thái yên nghỉ, tĩnh lặng, sáng suốt, trong đó cội nguồn của phiền não như khổ đau và sợ hãi đã bị đốt cháy hoàn toàn.

Vì Thiền giúp loại bỏ cái trạng thái lăng xăng, xao động vốn có của vọng tâm để vọng tâm trở về trạng thái định tĩnh, nên còn gọi là Thiền Định.

Trong một ý nghĩa tổng quát, Thiền không nhất thiết phải liên hệ với một tôn giáo nào cả. Thiền là thuật ngữ Việt tương đương với:

- Dhyāna của Bắc Phạn (Sanskrit).

- Jhāna của Nam Phạn (Pali).

- Ch’an của Hoa ngữ (dịch đủ là ch’an-na ).

- Zen của Nhật ngữ (dịch đủ là zen-na).

- Dzogchen của Tạng ngữ.

- Son của Hàn ngữ.

Có nhiều loại Thiền tùy theo các tôn giáo, các tông phái. Khi Thiền được du nhập qua các nước Tây Phương, nó phát triển với nhiều biến tướng khác nhau, thậm chí có cả Thiền- Sex. Để dễ hiểu, chúng ta có thể chia Thiền ra 2 loại:

  • Thiền Phật giáo
  • Thiền ngoài Phật giáo như Thiền Yoga (mở các luân xa), Thiền Vô vi (xuất hồn), Thiền nhân điện (chữa bệnh)...

Trong phạm vi bài nói chuyện hôm nay, chúng tôi chỉ bàn đến Thiền Phật giáo: Thiền Chỉ và Thiền Quán.

1/ Thiền Chỉ là Thiền Định (Samatha Bhavana) hay là “Thiền đối trị” đã có trước thời Đức Phật, dựa vào Yoga của Ấn Độ giáo. Thái tử Siddhartha đã thực hành phương pháp này khi tu theo 2 vị thầy Bà la môn và đã đạt những tầng Thiền cao.

a/ Thiền Chỉ được gọi là Thiền Định= Chỉ là dừng lại. Tịnh chỉ là dừng lại sự tán loạn, sự quên lãng, vọng niệm, chấm dứt sự đuổi bắt của tâm đến các đối tượng của trần cảnh. Thiền Chỉ là trạng thái tâm chuyên chú vào một đối tượng, khiến cho mọi vọng tưởng đều ngưng bặt, là cách buộc chặt tâm ý vào một đề mục làm cho tâm ý chuyên nhất đưa đến hỷ lạc và nhất tâm.Thiền Ðịnh đưa hành giả đến những tầng định từ Sơ Thiền tới Tứ Thiền qua đó hành giả hưởng sự an lạc nhất thời, không tạo thêm nghiệp mới, nhưng phiền não gốc vẫn chưa diệt trừ, do đó không thể đưa đến giải thoát.

b/ Thiền Chỉ còn được gọi là Thiền đối trị= Tùy theo sự đắm nhiễm của chúng sanh, Phật dạy phương pháp đối trị, như tùy bệnh mà cho thuốc. Phương tiện của Thiền đối trị là nhìn thẳng trên hình tướng sự vật thấy rõ nó sanh diệt vô thường và biết thật do nhân duyên hòa hợp mà có. Dùng trí tuệ quán sát vạn vật vô thường, duyên hợp, không có cái gì lâu bền và nguyên thể. Lòng đắm nhiễm nhân đó từ từ lắng dịu. Tiếp sau, chúng ta mới ứng dụng lối tu đối trị.
Pháp tu đối trị có nhiều môn, hành giả nặng về bệnh gì thì dùng môn đó đối trị. Như người nhiều vọng tưởng dùng “Sổ tức quán” đối trị, người nặng sắc dục dùng “Bất tịnh quán” đối trị, người thường nóng giận dùng “Từ bi quán” đối trị, người quá ngu si dùng “Giới phân biệt quán” đối trị v.v... Pháp quán giới phân biệt có công năng phá tan cái ngã không còn manh giáp. Cái ngã đã bị tấn công đủ mọi mặt, từ ngoài vào cho đến tận sào huyệt vì từ trước đến nay, cái ngã chấp sở dĩ hoành hành được là nhờ núp vào bóng tối của si mê.

 2/ Thiền QuánThiền Minh sát (Vipassana Bhavana) còn được gọi bằng nhiều tên khác nhau như “Thiền Tuệ”, “Thiền Thấy Tánh”, “Thiền Tứ niệm xứ” hay là “Thiền Chánh niệm” (Mindfulness) do chính Thái tử Siddhartha sáng tạo ra sau 6 năm tu khổ hạnh và đã thực hành đến giác ngộ hoàn toàn.Thiền minh sát có thể được dịch là “cái nhìn sâu sắc vào bên trong”, một nhận thức rõ ràng và chính xác những gì đang xảy ra. Nó liên quan đến khoảnh khắc hiện tại, quan sát thân và tâm với sự chú ý sâu sắc.

 Để làm được điều này, hành giả phải đưa tâm vào trạng thái tĩnh lặng, nghĩa là phải đạt định thì mới “minh sát” (nhìn sáng suốt) được. Cũng giống như mặt hồ tĩnh lặng thì bóng trăng mới tròn và rõ được.

2/ QL=Cám ơn BS. Khoáng đã đưa ra một hình ảnh rất đẹp và dễ nhớ để nói về “Thiền minh sát”. Ngày nay, chúng ta nghe nói nhiều về Thiền, trên các mạng thông tin xã hội Tây phương cũng như Á Đông. Thường thường người ta nói nhiều đến phương pháp Thiền hơn là nguồn gốc mà có lẽ hiểu được nguồn gốc của Thiền thì người ta sẽ dễ nắm được điểm quan trọng trong môn học này. Xin BS. Khoáng cho quý thính giả biết Thiền là một ý niệm phát xuất từ nền triết học nào?

 QK= Thiền có nguồn gốc từ Ấn Độ và là một phần trong Yoga đã có lịch sử lâu đời hơn 5.000 năm. Yoga là một trong 6 trường phái triết học nổi tiếng của Ấn độ đã được Đức Phật kế thừa và phát triển theo cách riêng của ngài. Đức Phật tên là Tất Đạt Đa (Siddhartha) sinh năm 563 trước Công Nguyên, là thái tử con của vua Tịnh Phạn, thuở nhỏ Ngài đã từng theo học các tu sĩ Bà La Môn. Ngài đi tu 6 năm và ngộ Đạo thành Phật Thích Ca Mâu Ni. Sau 45 năm truyền Đạo, Ngài nhập Niết Bàn năm 483 trước Công Nguyên, thọ 80 tuổi

    Thiền là một nét văn hoá đặc sắc của phương Đông. Từ đầu thế kỷ 20, sau khi được du nhập vào phương Tây, Thiền đã thoát ra khỏi ranh giới của tôn giáo và nhanh chóng được tiếp nhận như một phương pháp để chữa lành những căn bệnh của xã hội hiện đại do sự căng thẳng tâm lý (stress) gây ra. Ngày nay, với tinh thần khoa học và tính thực tiễn của người Âu Mỹ và với sự giúp sức của các thiết bị hiện đại, nhiều hiệu quả thực tế của Thiền đã dần dần được sáng tỏ .

   Trong những năm 1970, Thiền Chánh niệm đã được triển khai bởi Thiền sư Thích Nhất Hạnh như một phương pháp luyện tâm, rồi được ứng dụng bởi Jon Kabat-Zinn, GS sinh học tại ĐH Harvard, để điều trị các bệnh liên quan tới “stress”. Chánh niệm được định nghĩa bởi Jon Kabat-Zinn và các nhà khoa học là một “trạng thái tâm thức đưa tới do sự chú ý, có chủ ý, trong hiện tại, không phê phán, trên kinh nghiệm xảy ra từng lúc một”.

   Từ những năm 1980 và nhất là từ đầu thế kỷ 21, khoa học thần kinh đã tiến triển rất nhanh và cho thấy rõ những tác dụng tích cực của phương pháp MBSR (Mindfulness Based Stress Reduction) nghĩa là giảm “stress” bằng chánh niệm, với các thay đổi về hình thái cũng như sự vận hành của hệ thần kinh, nhờ sự mềm dẻo của não (neuroplasticity).

   Chỉ trong vòng vài chục năm, nhờ sự thúc đẩy của một số tăng sĩ và cư sĩ, Thiền đã vượt ra ngoài khuôn khổ của các tu viện, để được áp dụng trong xã hội hiện đại, tại các bệnh viện, bệnh xá, cũng như các nhà dưỡng lão, trường học và các nơi làm việc, thậm chí ở cả các nhà tù.

   Chìa khóa của Thiền chánh niệm nằm ở một chữ "sati". Sati tiếng Pali có nghĩa là “sự chú ý”. Tiếng Hán Việt là niệm, tiếng Pháp là “attention”, tiếng Anh là “attention hay mindfulness”. Sammā-sati có nghĩa là chánh niệm (sự chú ý chân chánh), là một trong con đường chánh tám nẻo (Bát chánh đạo) giảng bởi Đức Phật. Và hai bài Kinh mà Đức Phật dạy về Thiền đều mang tên sati, tức là Satipaṭṭhanā (Tứ niệm xứ) và Ānāpānasati (Niệm hơi thở).

 Nhưng điều đáng nói là đa số hành giả đều cho rằng hành Thiền là phải ngồi, và chỉ có ngồi mới là Thiền thôi, nên mỗi khi hành Thiền người ta thường tìm đến một nơi thích hợp như thiền đường, tịnh thất, chùa chiền, một nơi vắng vẻ, hoặc một căn phòng biệt lập tại nhà riêng, để ngồi theo một tư thế nhất định, thở hít theo một lề lối nhất định, nhắm mắt, khoá lục căn, chặn đứng sự sống bằng giác quan, tập trung vào một đề tài nào đó, đồng thời xua đuổi mọi tư tưởng khác xuất hiện nơi tâm.

 

Đây là một ngộ nhận. Thiền không phủ nhận ngồi, nhưng các tư thế khác của con người như đi, đứng, nằm cũng đều thuận lợi và thích hợp cho người tu. Nếu Thiền nhất thiết phải ngồi thì các Thiền giả không thể hành thiền toàn thời gian, hoặc nếu có thì đã tự rút lui ra khỏi cuộc sống thế gian. Trong Pháp Bảo Đàn Kinh, Lục Tổ Huệ Năng đã nhấn mạnh rằng: “Ngoài tâm không dính mắc là Thiền, trong tâm không vọng động là Định”, vậy là ta có thể “thiền” mọi lúc, mọi nơi.

3/ QL= Cám ơn BS. Khoáng đã giải thích rất cặn kẽ về nguồn gốc của Thiền.Trước khi nói đến các phương pháp của Thiền, xin BS. trình bày cho thính giả biết mục đích của Thiền là gì?

 QK= Chính bản thân chúng ta, khi làm một việc gì thì có lúc, chúng ta không ý thức được việc mình làm. Có rất nhiều người ăn mà không biết mình đang ăn vì trong bữa ăn, miệng nói chuyện, mắt nhìn "ti vi", đầu óc nghĩ chuyện này, chuyện nọ, tay gắp thức ăn mà mắt chẳng nhìn, rồi bỏ vào miệng nhai như một cái máy. Tất cả những hành động đều "vô ý thức" và ta lại cho đó là một cái gì rất tự nhiên. Chính cái rất tự nhiên này là nghiệp dẫn dắt ta đó.

Vậy là có rất nhiều điều trong cuộc sống nằm ngoài tầm kiểm soát của chúng ta. Điều quan trọng nhất mà chúng ta có thể làm là hành Thiền. Thiền chính là thuốc giải độc duy nhất cho những nỗi đau, lo lắng, sợ hãi, hận thù v...v. Thiền là phương pháp biến đổi tâm trí.

Thiền Minh Sát là một thực hành quan trọng để thanh lọc tâm trí, các yếu tố tinh thần gây ra phiền não và đau khổ. Kỹ thuật này không đòi hỏi sự trợ giúp của thần linh hay bất kỳ sức mạnh bên ngoài nào khác, mà nó dựa vào nỗ lực của mỗi cá nhân. Chính hành trình tự khám phá này sẽ dẫn đến tận gốc rễ của tâm để giải thể các ô uế về tinh thần, dẫn đến một tâm cân bằng đầy tình thương, từ bi và trí tuệ.

 Vậy mục đích chính của Thiền trong Phật giáo là đạt được giác ngộ bằng cách trực tiếp nhìn thấy bản chất thật của vạn vật mà không có sự can thiệp của “cái tôi”. Còn mục đích phụ là giảm “stress bằng cách làm chủ các tế bào thần kinh qua cách dừng suy nghĩ khiến tâm không còn lang thang như trong Thiền Chỉ hoặc chú ý vào các hoạt động hàng ngày như trong Thiền Quán.

     Theo bác sĩ Andrew Weil (thuộc Đại học Arizona) thì cách điều hoà hơi thở là cách thức hữu hiệu nhất để chống lại sự âu lo và Stress, và ngay đối với cả những thể nặng nhất của rối loạn thần kinh. Khi ta chú tâm vào hơi thở, và thở sâu, chậm, yên lặng và đều đặn thì ta không thể nào “stress” hay lo âu được. Bởi lẽ rất dễ hiểu là cơ thể chúng ta không thể nào cùng một lúc làm được những việc trái ngược nhau. Như chúng ta biết, ngược lại với Stress, sự điều hoà hơi thở sẽ làm cho tim đập chậm, giảm huyết áp, làm an tĩnh hệ thần kinh. Khi não bộ không nhận được tín hiệu nguy cơ nữa thì cơ thể trở lại với trạng thái điều hoà, các bộ phận điều tiết những Stress hormones (như Adrenaline, epinephrine, cortisol,...) không còn được kích thích cũng sẽ trở về trạng thái bình thường, và cơ thể ta không nằm trong trạng thái chuẩn bị ứng chiến như ta đã thấy ở trên. Hiện nay những bệnh viện lớn như Columbia Medical Center ở New York City, những bệnh nhân trước khi được phẫu thuật Tim, đều được mời tham dự những buổi Thiền. Ở những bệnh nhân có tham gia Thiền quán, người ta nhận thấy họ ít lo âu trước khi mổ, ít mất máu trong khi mổ và hồi phục nhanh hơn sau khi mổ. 

    Vào cuối năm 1971, cựu binh thủy quân lục chiến Mỹ Stephen Islas trở về từ Việt Nam, nhưng cuộc chiến vẫn ám ảnh mãi trong đầu ông. "Tôi đã ở mức gần như muốn tự sát khi trở về. Tôi đã bị tổn thương về tình cảm và sức khỏe tinh thần," Islas nhớ lại. Tại Los Angeles, một người bạn gợi ý ông tham gia một lớp thiền. Ông không tin tưởng cho lắm, nhưng cũng thử tập thiền. Cuối cùng, Islas nói rằng Thiền đã giải thoát ông khỏi hội chứng rối loạn hậu chấn thương tâm lý (PTSD= PostTraumatic Syndrome Disorder), căn bệnh mà ông được chính thức chẩn đoán tại Trung tâm Y tế Cựu chiến binh Tây Los Angeles.

 4/ QL= Cám on BS. Khoáng đã cho biết rất rõ về mục đích của Thiền. Như vậy, trước khi tập các phương pháp Thiền thì người tập đã được chuẩn bị tinh thần để bước vào giai đoạn thực tập. Xin BS. Khoáng trình bày các phương pháp của Thiền.

 QK= Các phương pháp Thiền thì có nhiều, nhất là sau khi Thiền đã được du nhập qua các nước Tây phương nhưng chúng tôi chỉ xin bàn về Thiền chính thống của Phật giáo nguyên thủy là Thiền Quán Vipassana (còn gọi là Thiền Chánh niệm hay Thiền Tuệ) mà Đức Phật đã khởi xướng, thực hành và thành đạo. Phương pháp này dựa trên Tứ niệm xứ cũng do Đức Phật thuyết giảng trong Kinh Đại Niệm xứ.

Pháp Niệm Xứ có bốn phần, đó là chuyên chú niệm vào:

1/ Thân gọi là Niệm thân.
2/ Thọ hay cảm giác gọi là Niệm Thọ.
3/ Tâm gọi là Niệm Tâm.
4/ Pháp là những đối tượng của Tâm gọi là Niệm Pháp.

1) Niệm thân: Hành giả quán niệm thân thể nơi thân thể. Đó có nghĩa là ngay nơi thân thể, hành giả quán niệm về thân thể, chứ không phải nương theo nơi một cảm giác hay ý tưởng mà quán niệm về thân thể. Quán niệm về thân thể là quán sát và ghi nhận tất cả những gì liên quan và đang xảy ra nơi thân thể.

Quán niệm về thân thể gồm có: hơi thở vào-ra, bốn oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi), các động tác thông thường, các bộ phận ở trong thân thể, tứ đại và 9 giai đoạn tan rã của thân thể.

Trong pháp niệm thân, đặc biệt là phần niệm hơi thở vào-ra: Hành giả ngồi xếp bằng thoải mái, đặt hết tâm ý vào sự theo dõi và ghi nhận hơi thở vào, hơi thở ra. Khi hít vào một hơi dài (hay ngắn), hành giả biết mình đang hít vào một hơi dài (hay ngắn); khi thở ra một hơi dài (hay ngắn), hành giả biết mình đang thở ra một hơi dài (hay ngắn)... Ðây là một phương pháp hành thiền rất phổ thông, vì nó có thể thích hợp cho mọi người, để lắng tâm, cũng như để an trụ tâm. Chính Đức Phật xưa kia đã tận lực hành trì nên Ngài chứng đạo quả vô thượng Bồ Ðề.

2) Niệm thọ hay cảm giác: Hành giả quán niệm cảm giác nơi cảm giác, có nghĩa là chú tâm ghi nhận "một cách khách quan" những cảm giác hay cảm thọ của mình: vui sướng (lạc thọ), đau khổ (khổ thọ), hoặc không vui sướng cũng không đau khổ (xả thọ), xem chúng khởi lên ra sao và biến mất như thế nào.

3) Niệm tâm hay những hoạt động của Tâm: Trong khi hành thiền, nếu có những ý nghĩ hay tư tưởng phát sanh thì hành giả phải liền ý thức và ghi nhận chúng. Những tư tưởng ở đây có thể là tốt, là xấu, thiện hay bất thiện. Hành giả quán sát, theo dõi, nhìn cả hai mà không luyến ái hay bất mãn. Phương pháp quán sát tâm mình một cách khách quan giúp cho hành giả thấu đạt bản chất và hoạt động thật sự của tâm. Những ai thường xuyên niệm tâm sẽ học được phương cách kiểm soát và điều khiển tâm mình.

4) Niệm Pháp hay đối tượng tâm thức. Trong phần này hành giả quán niệm về:

 a/ Năm hiện tượng ngăn che: tham dục, sân hận, hôn trầm, loạn tưởng, nghi hoặc.

 b/ Năm nhóm tập hợp hay ngũ uẩn : sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

 c/ Sáu giác quan và sáu loại đối tượng hay lục căn và lục trần : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý và hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, xúc chạm, tư tưởng .

 d/ Bảy yếu tố của sự giác ngộ còn gọi là thất giác chi: niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả.

 e/ Bốn sự thật cao quý (Tứ diệu đế) : khổ đau, nguyên nhân đưa đến khổ đau, sự chấm dứt khổ đau, và con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ đau.

Cuối cùng trong Kinh nói rằng người nào thực hành bốn phép quán niệm trên, người ấy có thể có khả năng đạt được quả vị Thánh ALa Hán ngay trong kiếp này, hoặc ít ra thì cũng bước vào dòng thánh như Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, ANa Hàm.

Cần nhớ là trong tất cả bốn lãnh vực quán niệm (thân, thọ, tâm, pháp) hành giả phải lấy chánh niệm làm đầu, và chỉ giữ chánh niệm mà thôi, có nghĩa là giác tỉnh quan sát và ghi nhận một cách khách quan. Những người nào có thiện chí và ý thức được là từ xưa đến nay mình đã làm không biết bao nhiêu hành động "vô ý thức" thì hãy bắt đầu từ bây giờ trở về sau làm chủ lại tất cả những hành động cũng như ý nghĩ của mình, hãy tập sống giác tỉnh như Đức Phật.

Trong kinh “Nhất dạ Hiền giả”, Đức Phật đã nhắc nhở các đệ tử nỗ lực chánh niệm để phát huy tuệ quán nhận ra “cái đang là” của các pháp hiện tại và an trú trong bây giờ và ở đây:

"Quá khứ không truy tìm,

Tương lai không ước vọng,

Chỉ có pháp hiện tại,

Tuệ quán chính là đây".

 

     Trong hai thập niên qua, phương pháp Chánh niệm ngày càng được phổ biến tại Hoa kỳ. Tổ chức Mindful School tại Oakland, bang California cho biết đã tập huấn hơn 25.000 giáo viên từ hơn 100 quốc gia trên thế giới. Đối với trẻ con, phương pháp mindfulness dùng các trò chơi dễ học, dễ nhớ dạy trẻ quán “tứ niệm xứ” gồm thân, thọ, tâm, pháp, giúp trẻ thoát khỏi cái khuôn mẫu là mỗi khi “thiền” là cứ phải kiếm chỗ yên tĩnh, nhắm mắt, tréo chân.

5/ QL= BS. Khoáng chắc đang thực hành Thiền. Xin BS. cho biết với kinh nghiệm của BS. việc tập luyện Thiền có những khó khăn và sai lầm nào không?

 QK= Khoảng 10 năm qua, từ khi nghỉ hưu, tôi đã thực hành Thiền một cách chuyên cần hơn. Trung bình, mỗi ngày 2 thời sáng sớm và chiều, khoảng 1 giờ đồng hồ mỗi lần. Tuy nhiên, sau này vì phải đi dạy học thêm nên công phu ngồi Thiền buổi chiều thường không được đều đặn. Sau đây là một số khó khăn và sai lầm mà tôi nhận thấy có thể xảy ra ở một số thực tập sinh.

A-Những khó khăn=

A-1= Về Thiền chỉ:

  • Ngồi Thiền không đều đặn, không đúng giờ.
  • Trong phần đếm hơi thở thường đếm sai nên phải đếm lại từ đầu.
  • Ngồi lưng không thẳng nên nhức mỏi và nhất là tê chân.
  • Suy nghĩ lung tung (loạn động)
  • Buồn ngủ (hôn trầm)

A-2= Về Thiền quán:

 Theo quan điểm của Phật giáo, thì trạng thái tỉnh thức của một người bình thường rất có giới hạn và càng bị hạn chế bởi những hành động máy móc vô ý thức. Nói chính xác hơn thì trạng thái ấy giống như của một người nằm mộng, “mở mắt mà chiêm bao” chứ không phải là của một người tỉnh thức. Thực tập chánh niệm là nhằm chúng ta thức dậy từ giấc mộng- thức này, và giúp thân và tâm chúng ta luôn bên nhau đúng với sự sống thật chứ không phải sống trong những khuôn mẫu định sẵn, sống với những khái niệm, những định kiến nên cuộc sống không bao giờ mới mẻ, chỉ là sống ảo .

 Điều khó khăn và quan trọng nhất là ta phải biết trở về với chính mình, chứ không nên cố gắng trở thành một cái gì khác hơn là mình. Đạo Phật dạy cho ta biết tiếp xúc với tự tánh của ta và để cho nó hiển lộ ra một cách không ngăn ngại. Có nghĩa là ta phải thức dậy và nhìn thấy sự vật như chúng thật sự như vậy. Thật ra chữ Buddha, Phật, có nghĩa là một người tỉnh thức, một người đã thấy được tự tánh của mình.

 B- Sai lầm =

1- Mong cầu sớm đạt được quả vị này, quả vị kia. 2- Để óc tưởng tượng xen vào thấy cảnh giới này, vị tiên kia khiến bị lôi kéo vào chỗ mê tín. 3- Tham đắm vào hỷ, lạc khi ngồi Thiền khiến quên mất mục đích cuối cùng là giác ngộ. 4- Một số người khác, khi hành thiền, lại cố gắng quá mức khiến bị kiệt sức nên chán nản vì thấy không có kết quả gì. 5- Một số người thay đổi Thầy, đổi phương pháp nên dễ rơi vào tình trạng hoang mang, thất vọng. 6- Một số người ham mê xuất hồn để đi cõi này cõi kia còn gọi là “du hý thần thông” khiến bị ma quỷ nhập gọi là “tẩu hỏa nhập ma”.

6/ QL= Ngày nay, số người thực hànhThiền rất đông, mà có lẽ càng ngày càng nhiều. Như vậy, chắc việc tập Thiền phải có lợi ích nào cho tinh thần cho nên người ta mới thực hành. Xin BS. cho biết về các lợi ích của Thiền.

 QK= Lợi ích của Thiền có nhiều cách trình bày tùy theo các nghiên cứu. Ở đây, chúng tôi chỉ nêu lên những lợi ích theo Kinh Phật từ xa xưa và theo Viện nghiên cứu Mayo Clinic tại Hoa Kỳ ngày nay:

 6a/ Theo Kinh Đại Niệm Xứ , có 7 lợi ích cho người hành thiền :

  1. Thanh lọc (tâm) , 2. Chấm dứt lo âu, 3. Chấm dứt than khóc, 4. Diệt khổ thân, 5. Diệt khổ tâm, 6. Đạt Thánh Ðạo, 7. Chứng ngộ Niết Bàn.

 

 6b/ Theo Viện nghiên cứu viện nghiên cứu Mayo Clinic , có 8 lợi ích của Thiền cho hành giả:

1/ Làm giảm những cơn đau và tăng cường hệ miễn dịch

2/ Làm giảm lo âu, căng thẳng, giận dữ, bi quan và mệt mỏi.

3/ Gia tăng tuần hoàn máu, giảm nhịp tim.

4/ Mang lại sự bình an, thư thái và cân bằng.

5/ Ngăn ngừa những bệnh về tim mạch.

6/ Giúp kiểm soát tư duy.

7/ Cung cấp thêm năng lượng.

8/ Giảm stress.

 Ngày nay, khoa học về não bộ đã chứng minh thiền định có thể giúp chuyển hóa, biến đổi các hoạt động não bộ. Như người ta đã dùng kỹ thuật chẩn đoán Cộng hưởng từ chức năng ( Functional MRI) để chứng minh thiền định giúp con người chế ngự sự đau đớn hoặc có trạng thái an nhiên tự tại với hình ảnh thay đổi trên những vùng não một cách rõ ràng (Các nghiên cứu trên Hòa thượng Thích Thông Triệt và trên Lạt Ma Matthieu Ricard).

 7/ QL= Thiền có vẻ như là một sự vận động cả về tâm trí, tinh thần và thể xác. Xin BS. cho biết sự tập luyện Thiền thay đổi con người chúng ta như thế nào?

 QK= Theo BS Đỗ Hồng Ngọc, cách ngồi tréo chân (kiết già, bán già) có lợi ích hơn sau khi ta đứng hay đi. Lý do khi ta đứng hay đi, các bắp cơ phía trước của hai chân phải co lại để nâng đỡ cả thân mình, trong khi các bắp cơ phía sau lại duỗi ra. Lúc ngồi tréo chân, ta đã làm cho hoạt động các bắp cơ đổi chiều. Đây là phương pháp “đối chứng trị liệu”: Cơ nào đã duỗi lâu thì được co lại, cơ nào đã co lâu thì được duỗi ra nên giúp làm giảm sự tiêu thụ oxy đáng kể!

Giữ lưng thẳng đứng cũng là một yêu cầu vô cùng quan trọng trong Thiền vì nếu để lưng cong, ta sẽ mau mỏi lưng hơn và kinh mạch lưu thông không được tốt. Trong Thiền, một yếu tố rất quyết định nữa là sự thả lỏng toàn thân,“buông xả” toàn thân, mà có người ví như thả trôi theo dòng nước. Khi đó, không một bộ phận nào của cơ thể còn phải gồng nữa, kể cả vỏ não. Tiêu hao năng lượng cho trương lực cơ và hoạt động của vỏ não sẽ giảm thấp nhất có thể được.

Các nghiên cứu Y sinh học cho thấy các nhà sư có thể làm giảm nhu cầu oxygen đến 40% trong lúc thiền. Lúc đầu, các nhà khoa học nghĩ Thiền chắc cũng giống như ngủ nhưng thật ra khác hẳn! Thiền khoảng 30-40 phút thì mức lactate trong động mạch giảm, phenylalanine tăng 20%, giảm các họat động hệ giao cảm trên bề mặt da, giảm nhịp tim và hô hấp đáng kể. Cortisol và ACTH cũng giảm, do đó, không bị “stress”; trong khi Arginine và Vasopressin, được coi là có vai trò trong học tập và trí nhớ gia tăng đáng kể. Nhiều nghiên cứu ngày càng sâu hơn về beta-endorphin, corticotropin, melatonin, DHEA … hứa hẹn giải thích cơ chế tác dụng của Thiền trên nhiều mặt trong tương lai.

 

 Nghiên cứu về lâm sàng cho thấy thiền giúp giảm thời gian nằm viện của bệnh nhân, giảm lo âu, trầm cảm, giảm 50% các triệu chứng tâm thần nói chung. Người hành thiền hơn 5 năm có tuổi già sinh lý trẻ hơn 12 năm so với người cùng tuổi, dựa trên 3 yếu tố là huyết áp, khả năng điều tiết nhìn gần của thị giác và khả năng phân biệt của thính giác. Học sinh cấp 2 nếu thực tập thiền trên 2 tháng, có kết quả học tập tốt hơn, có khả năng tập trung, thói quen làm việc, cải thiện hành vi (giảm xung đột, hung hăng), tự tin hơn, có khả năng hợp tác và quan hệ tốt hơn với người khác. Thiền giúp làm giảm cân, giảm béo phì, giảm nghiện thuốc lá, rượu, các chất ma túy nói chung.

 8/ QL=Như BS. Khoáng đã trình bày, chúng ta có thể thấy được là kết quả đầu tiên mà chúng ta nhận thấy sau khi thực hànhThiền là cải thiện sức khoẻ. Sau khi đã hiểu mục đích cũng như biết phương pháp thực hành, một người tập Thiền có thể áp dụng Thiền trong đời sống cá nhân như thế nào? Xin BS. Khoáng chia sẻ với quý thính giả.

 QK= Vào thế kỷ thứ 17, René Descartes, nhà toán học và triết gia Pháp, khẳng định thuyết nhị nguyên, tách rời thế giới tâm linh và thế giới vật chất mà theo ông, tâm tương ứng với tư tưởng, và thân tương ứng với cơ thể, là hai thực thể không được làm cùng một chất liệu. Nếu như Descartes còn sống đến ngày nay thì hẳn là ông đã thấy mình thật sự sai lầm. Tư tưởng và cơ thể con người là 2 bộ phận liên quan mật thiết, những tình cảm yêu ghét, giận hờn tuy không thể cân đo đong đếm nhưng có thể dẫn đến những căn bệnh rất rõ ràng như nhồi máu cơ tim, loét bao tử, hay ngược lại những căn bệnh hiểm nghèo mà bác sĩ tưởng chừng phải bó tay bỗng nhiên thuyên giảm một cách kỳ diệu sau những cuộc hành hương. Ngoài ra, sức mạnh của thiền định là một sự thật không thể chối cãi. Sự kiện những vị thiền sư Tây Tạng ngồi thiền trong tuyết lạnh và sử dụng hoả thân (lửa tam muội) để làm nóng lớp chăn phủ trên người đã làm nao núng giới khoa học gia Tây phương. 

 Thiền là một pháp môn cao thâm, vi diệu, là con đường ngắn nhất để đi tới giải thoát. Hành Thiền là tìm đạt đến một tâm thái giải thoát bằng cách chủ động, ngưng dứt tư tưởng. Muốn ngưng dứt tư tưởng thì chỉ có một cách là chú tâm vào hiện tiền, gọi theo Phật Học là hành Chánh Niệm. Đi, đứng, tắm, giặt v.v… thì chú tâm vào đi, đứng, tắm, giặt. Ăn uống thì chú tâm vào ăn uống. Làm gì thì chú tâm vào việc đang làm. Thế là hành thiền. Thiền chỉ đơn giản vậy thôi, chẳng cần áp dụng phương pháp nào hay rập theo khuôn mẫu nào.

 Chúng ta đều biết “Stress” gây ra rất nhiều bệnh. Cái danh mục của những căn bệnh thời đại đó càng ngày càng dài ra tưởng như không bao giờ hết. “Stress” cao độ và kéo dài làm yếu đi khả năng đề kháng của cơ thể làm mệt mỏi trái tim, làm hư hoại những tế bào của não bộ, làm tăng mỡ đọng ở eo và mông, ung thư và tiểu đường. Stress cũng dự phần lớn vào những bịnh thoái hoá ( như thoái hóa khớp xương), những bệnh tâm thần như trầm cảm và góp phần làm cho các tế bào mau già. Thiền giúp tiết giảm tiêu thụ năng lượng một cách đáng kể, còn hơn cả giấc ngủ. Một khi cơ thể giảm tiêu thụ năng lượng thì các tế bào được nghỉ ngơi, nên toàn thân cảm thấy nhẹ nhàng sảng khoái. Trạng thái đó xảy ra trên từng tế bào của cơ thể. Một cảm giác lâng lâng dễ chịu toàn thân của hành giả, phải chăng đó chính là trạng thái hỷ lạc.

9/ QL= Như vậy Thiền đem đến cho chúng ta sự thoải mái, hay như người ta thường nói “thân tâm an lạc”, có phải thế không? Ngoài sự áp dụng Thiền trong đời sống cá nhân, xin BS. cho biết Thiền còn có thể có áp dụng nào trong xã hội?

 QK=Chúng ta sinh ra cùng sự tương giao với vạn pháp. Em bé mới sinh bắt đầu tiếp xúc với không khí xung quanh, bắt đầu thấy được, nghe được... Trong quá trình mắt thấy, tai nghe ấy bắt đầu nảy sinh ý thích âm thanh này, ghét âm thanh kia, thích màu sắc này, không thích màu sắc nọ. Từ đó bắt đầu nảy sinh sự cố chấp: “tôi chỉ thích cái này thôi, tôi nhất định phải có được cái này”. Rồi thêm một bước nữa là loại bỏ những gì mình không thích, lấy về những gì mình thích. Chính chúng ta đã cắt vụn cuộc đời ra thành những mảnh nhỏ. Bây giờ cuộc đời không còn là sự tương giao nữa, chỉ còn sự phân chia manh mún.

 Sự tương giao luôn mang tính tự nhiên, mình có thể tương giao với vũ trụ bên ngoài qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý còn các mối quan hệ chỉ là quy ước tạm thời và chúng luôn thay đổi theo vị trí và thời gian. Mối quan hệ vợ chồng ở thế kỷ 19 khác với mối quan hệ vợ chồng ở thế kỷ 20, mối quan hệ cha con ở phương Tây khác với mối quan hệ cha con ở phương Đông. Còn sự tương giao thì bất kỳ ở đâu cũng giống nhau. Trong sự tương giao thì tất cả đều là bạn bè, từ con chó, cái cây, đám mây bay qua trên bầu trời. Thiền không phải để tìm tòi và đạt được một trạng thái mình ưa thích mà là thái độ có thể định tĩnh sáng suốt trong bất kỳ tình huống nào. Nếu cố giữ tâm chỉ ở trong trạng thái ưa thích thì nó sẽ chống đối những trạng thái còn lại. Cuộc sống luôn ở trong sự tương giao hài hoà tự nhiên bao gồm cả thân-tâm-cảnh, nó không hề có ý định chống đối chúng ta. Chỉ có cái Ta luôn luôn muốn lựa chọn cái nó thích đồng thời muốn loại bỏ những cái nó không thích, tạo ra thế mâu thuẫn đối kháng giữa hai ý muốn của chính nó mà thành ra đau khổ.

Chúng ta quá đặt nặng mục đích để đạt đến mà quên mất cái mục đích hiện thực đang có mặt ngay đây và bây giờ. Chúng ta không thể xây ngôi nhà hạnh phúc bằng những viên gạch đau khổ. Ngôi nhà hạnh phúc chỉ có thể xây từ những viên gạch hạnh phúc mà thôi.Chúng ta nên sống an vui với chính mình và an vui với người khác.

10/ QL= Xin được hỏi BS. Khoáng một điểm cốt yếu là Thiền liên quan đến đời sống tâm linh của chúng ta như thế nào?

 QK= Thiền chỉ (Thiền Định) có mục đích chế ngự 5 chướng ngại: tham dục, sân hận, hôn trầm, loạn tưởng, nghi hoặc và làm cho tâm thức trụ lại trên đối tượng. Thiền chỉ được chia ra làm 4 bậc định là Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền và Tứ thiền. Kết quả sau cùng là hành giả đắc định hay nhập định như mong muốn. Thiền chỉ là phương tiện cho bước kế tiếp là thiền quán.

Thiền quán (Thiền Tuệ) là khám phá trọng đại của Đức Phật Thích Ca, vượt lên hẳn đối với phương pháp thiền truyền thống của Ấn Độ giáo. Thiền quán có mục đích làm cho tuệ phát triển thông qua công phu quán sát các đối tượng đang hiện hữu, diễn biến trong thân và tâm với mục đích để thấy ra tính Duyên khởi là vô thường và vô ngã nơi chúng. Đó là tâm thức nhận chân bản chất đối tượng. Kết quả sau cùng là đắc tuệ nghĩa là giác ngộ và giải thoát, chính là mục tiêu tối hậu và đặc thù của Đạo Phật.

Phật là người đã giác ngộ và giải thoát: Giác ngộ mọi lẽ huyền vi của vũ trụ, Giải thoát khỏi Tham- Sân- Si và vòng Sinh tử - Luân hồi. Mọi chúng sinh, ai cũng có hạt giống Phật như lời Đức Phật đã tuyên bố: “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”. Vậy, chúng ta chỉ việc thực hành theo những chỉ dẫn của Ngài, trong đó có hành Thiền, để thành người tỉnh thức như Ngài.

 11/ QL= Chương trình Văn Hóa Việt sắp kết thúc. Xin BS. Khoáng cho lời kết luận cho đề tài nói chuyện về Thiền hôm nay:

 QK=Tất cả những gì chúng ta tạo tác (bằng lời nói, hành động hay tư duy) cũng đều ảnh hưởng đến người khác. Vì vậy, chúng ta phải học cách sống trong tỉnh thức, trong chánh niệm để có thể tiếp xúc với tâm bình an nơi tự thân mình. Nếu mọi người đều sống trong chánh niệm, trong tỉnh thức thì tất cả chúng ta đều hưởng được lợi ích, chẳng phải “Tâm bình thì thế giới bình”sao?

 Xin mời quý vị nghe một chuyện vui trước khi kết thúc bài này:

Trong buổi thuyết giảng Vi-Diệu-Pháp ở chùa tại Washington, vị nữ thiền sư Tâm Tâm có kể một câu chuyện vui cho các Phật tử nghe. Có một người đệ tử xuất gia được hai năm, một hôm qùy bạch vị Sư-phụ rằng: “Bạch Thầy, con xin Thầy cho phép con trở về sống với gia đình, vì con thấy việc tu hành quá khó khăn, khắc khổ, con theo chẳng nổi nữa.”

Vị Sư phụ liền hỏi: “Trước kia, con làm nghề gì?”

- Bạch Thầy, chẳng dám nói dối Thầy, trước kia con làm nghề ăn trộm.

- Thế thì đi tu cũng hợp với con đấy!

- Bạch Thầy, Thầy nói sao, con không hiểu!

-Này con, nghe Thầy hỏi. Khi đi ăn trộm, con làm cách nào ?

-Bạch Thầy, trước khi ra tay, con phải cố gắng rình xem chủ nhà cất tiền bạc ở đâu, lúc nào anh ta ngủ say rồi con mới khoét vách vào nhà trộm của.

-Thế à ! Việc đi tu cũng vậy thôi. Con cứ rình mò xem tâm của con lúc nào nó muốn làm điều quấy, chận lại, đừng cho việc ác khởi lên. Con cứ rình mò như thế, ngày này qua ngày khác, chẳng buông lơi, đó chính là con đang tu đó!

Ý nghĩa của câu chuyện vui là gì ? Đó là vị Sư phụ đã đem ví việc rình mò của tên trộm với việc theo dõi tâm, canh chừng tâm khi có ý nghĩ bất thiện khởi lên để chận đứng chúng lại. Nếu đem sự cố gắng của tên trộm đang rình mò chủ nhà mà áp dụng lên cho chánh niệm biết theo dõi tâm, kiểm soát tâm, thì công việc tu hành cũng không quá khó, quá khổ đến nỗi phải bỏ cuộc nửa chừng.

 Tóm lại, Thiền không phải là phương pháp vay mượn bên ngoài đem về áp dụng cho riêng mình để mưu cầu một thành quả hay đạt được một lý tưởng ước mơ. Thiền chỉ là thấy ra hiện trạng sự tương giao giữa thân tâm và môi trường sống để ngay đó thấy ra sự thật. Thấy sự thật thì mới biết tùy hoàn cảnh mà tự điều chỉnh nhận thức và hành vi cho đúng .

 

QL: Xin cám ơn BS. Nguyễn Quý Khoáng đã dành thời giờ quý báu đến với chương trìnhVăn Hóa Việt và cho chúng ta những hiểu biết thật rõ ràng và thực tế về Thiền.

Xin mời BS. lên tiếng chào quý thính giả của đài Saigon Houston.

QK: Trước khi dứt lời, tôi xin cám ơn chị Quý Linh và đài Sài Gòn- Houston đã tổ chức buổi nói chuyện hôm nay. Xin cám ơn quý vị thính giả của đài SàiGòn- Houston đã theo dõi.

QL: Xin cảm ơn quý thính giả đã theo dõi buổi nói chuyện của BS. Nguyễn Quý Khoáng với đề tài “Tìm Hiểu về Thiền”.

Xin kính chào quý thính giả. Xin hẹn gặp lại quý vị trong chương trình lần tới.

 

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1/ Sơ yếu về Thiền phần 1 và 2: Huy Thái.

2/ Chánh niệm: Hòa Thượng Thích Viên Minh.

3/ Sống tùy duyên và thuận pháp: Hòa Thượng Thích Viên Minh.

4/ Thiền Chỉ và Thiền Quán: Thích Trung Định.

5/ Giải thoát tức thì: Cư sĩ Nhi Bất Nhược.

6/ Vô ngã, Thiền và Khoa học Thần kinh: BS Trịnh Đình Hỷ.

7/ Tâm lang thang, Chú ý và Thiền định: BS Trịnh Đình Hỷ.

8/ Thiền và Thở: BS Đỗ Hồng Ngọc.

9/ Về thực hành Mindfulness: GSTS Nguyễn Hữu Đức.

10/ Giải thoát Đạo luận : Upatissa, Cư sĩ Thiện Nhựt dịch.

11/ Chánh niệm, bước đầu căn bản để tu học Phật pháp : Cư sĩ Thiện Nhựt.

12/ Tìm hiểu Kinh “ Nhất Dạ Hiền giả”: Thích nữ Hằng Như.

Download