TỪ « CÁI TÔI ĐÁNG GHÉT » CỦA PASCAL ĐẾN

« LÝ VÔ NGÃ » CỦA ĐỨC PHẬT

BS Nguyễn quý Khoáng (17/03/2015)

DÀN BÀI

 1-LỜI MỞ ĐẦU

 2-Ý NGHĨA CÂU «CÁI TÔI ĐÁNG GHÉT » CỦA PASCAL

 3- SỰ TƯƠNG QUAN GIỮA CÂU « CÁI TÔI ĐÁNG GHÉT »VÀ

 CÂU « KẺ THÙ LỚN NHẤT ĐỜI NGƯỜI LÀ CHÍNH MÌNH»

 4-THẾ NÀO LÀ “NGÔ THEO ĐẠO PHẬT?

 5- LÝ VÔ NGÃ TRONG TRIẾT LÝ ĐẠO PHẬT

 6- LỢI ÍCH CỦA LÝ VÔ NGÃ

 7- LÀM THẾ NÀO ĐỂ CÓ BÌNH AN TRONG CUỘC SỐNG?

 8- KẾT LUẬN

I-LỜI MỞ ĐẦU

 Có lẽ, không có lúc nào kể từ sau thế chiến thứ 2, con người lại chứng kiến những suy đồi về đạo đức như bây giờ. Từ gia đình với những bạo hành, áp bức, loạn luân đến xã hội đầy rẫy những lừa lọc, đàn áp, giết hại lẫn nhau...Trên phạm vi quốc gia thì những xung khắc vì quyền lợi,vì tự ái dân tộc,vì mộng bá quyền khiến chiến tranh ở các khu vực trên quả địa cầu này xẩy ra dọa đưa đến thế chiến thứ 3. Một năm trở lại đây, cái ác lên ngôi với nhóm nhà nước Hồi giáo quá khích ISIS. Với sự cuổng tín mãnh liệt và sự tàn ác khủng khiếp, họ không chừa con đường sống cho bất cứ ai không bỏ đạo để theo tôn giáo của họ. Họ còn dụ dỗ được hàng ngàn thanh niên, thanh nữ ở các nước Tây Phương qua Trung Đông nhập quân theo họ để rồi khi trở về nguyên quán thì gây ra những cuộc khủng bố, thậm chí là tự sát bằng bom để giết hại dân chúng vô tội hoặc các chính khách nghịch với họ. Thế giới giờ đây như một ngôi nhà đang bị cháy. Trong Kinh Pháp Hoa có nói về ngôi nhà lửa hiểu theo nghĩa bóng: Lửa tham, lửa sân, lửa si. Còn giờ đây, tôi thấy ngoài nghĩa bóng, còn nghĩa đen nữa với các thành phố và con người bị đốt cháy vì bom đạn mà đáng sợ nhất là bom hạt nhân.

 Tôi còn nhớ một phi hành gia khi ra ngoài khí quyển thấy trái Đất là một hành tinh xanh rất đẹp nhưng lại rất nhỏ bé so với vũ trụ . Ông xúc động và thốt lên sao nó mong manh quá và cầu mong con người biết thương yêu ngôi nhà chung này để cùng nhau bảo vệ quả đất cho các thế hệ con cháu chúng ta được nhờ. Nếu con người khắp năm châu bớt tham, sân, si, biết thương nhau và cùng chung sống hòa bình với nhau thì thế gian này chẳng phải là cõi tiên trên trần thế hay sao?

 Trên đời này, hầu hết con người đều bị dính mắc bởi 4 muốn: danh vọng, tiền bạc, tình ái, ăn ngủ. Và 4 muốn này từ 3 chữ Tham , Sân, Si mà ra. Cốt lõi của vấn đề đau khổ trên thế gian này là từ cái Tôi mà Pascal đã phải nói cách đây 4 thế kỷ rằng "Cái tôi đáng ghét"(Le Moi est haissable) còn Đức Phật, cách đây 25 thế kỷ đã giải thích rằng mọi đau khổ trên đời này là do "Chấp Ngã" (nghĩa là bám víu vào cái Ta). Từ đó, để giải quyết đau khổ trên đời này, Đức Phật đã đưa ra "Lý Vô ngã" mà chúng ta sẽ bàn trong phần sau đây.

II-Ý NGHĨA CÂU «CÁI TÔI ĐÁNG GHÉT » CỦA PASCAL

 Trong quyển « Les pensées», Blaise Pascal (1623-1662) giải thích “ Cái Tôi đáng ghét” (Le moi est haissable) như sau:

 -Do tự ái (amour-propre , amour de soi) và do tưởng tượng, con người tự xem mình như là « cái rốn của vũ trụ » (nombrilisme). Như vậy, người đó sẽ ích kỷ, chỉ nghĩ đến quyền lợi của chính mình và muốn người khác làm nô lệ cho mình, mỗi người là kẻ thù và muốn là bạo chúa của tất cả người khác ( chaque moi est l’ennemi et voudrait être le tyran de tous les autres ).

 - Tự ái khiến con người ra vẻ như sống chứ không thực hiện hữu, mơ mộng về cuộc đời hơn là thực sống (L’amour-propre pousse les hommes à paraître plutôt qu’à être, à rêver leur vie plutôt qu’à la vivre).

- Cuộc đời chỉ là một ảo tưởng liên tục, người ta chỉ lừa dối nhau và tâng bốc nhau ( la vie humaine n’est qu’une illusion perpétuelle ; on ne fait que s’entre-tromper et s’entre-flatter).

 Cuối cùng, Pascal khuyên con người hãy khiêm tốn và hướng về Chúa.

 III- SỰ TƯƠNG QUAN GIỮA CÂU « CÁI TÔI ĐÁNG GHÉT »VÀ

CÂU « KẺ THÙ LỚN NHẤT ĐỜI NGƯỜI LÀ CHÍNH MÌNH»

Trong khi « cái Tôi đáng ghét » là do tự ái và tưởng tượng, « Kẻ thù lớn nhất đời người là chính mình » (từ 14 lời dạy của Đức Phật mà Hòa thượng Kim Cương Tử trụ trì chùa Trấn Quốc trích từ Kinh Phật) là do chấp vào cái Ta, còn gọi là chấp Ngã. Vì tin rằng cái Ta có thật nên phân chia Ta với người :

-Nghĩ cái Ta có thật nên ai đụng chạm đến Ta thì tự ái nổi lên, Sân phát khởi.

-Nghĩ cái Ta có thật nên muốn vun bồi cho mình và gia đình mình, từ đó lòng Tham nổi lên.

Thường người ta hay nói Tham-Sân-Si , tuy nhiên ta nên nói Si-Tham-Sân.

Thật vậy, từ việc Chấp cái Ta có thật (Si) nên mới sinh ra Tham và Sân và sự chấp ngã này được xem như kẻ thù của chính mình.

Vậy cách giải thích của Pascal về gốc của « cái Tôi đáng ghét » là do « tự ái » và của Đức Phật về « Kẻ thù lớn nhất đời người là chính mình » là do « chấp ngã » khác nhau ở chỗ là Đức Phật đã phân tích sâu hơn vì "chấp ngã" mới là nguyên nhân của "tự ái".

Để giải quyết được sự chấp Ngã này, chúng ta phải hiểu Đạo Phật quan niệm thế nào về cái Ta cũng như về lý Vô Ngã.

 IV-THẾ NÀO LÀ “NGÔ THEO ĐẠO PHẬT?

 Khi có người hỏi bạn là ai, chắc chắn bạn sẽ trả lời; “Tôi chính là tôi”. Nhưng bạn có bao giờ nghĩ “cái tôi” là gì chưa? Bạn sẽ trả lời tiếp: Thân thể này là chính tôi, tư tưởng của tôi chính là tôi, tài sản của tôi chính là tôi, chức vụ của tôi chính là tôi…Tuy nhiên, trong những câu trả lời đó, chỉ thấy xuất hiện “của tôi”,”của tôi”… mà không nói rõ cái gì là tôi cả. Thực tế không có “cái tôi” đích thực. Chúng ta không biết được mình là ai bởi từ nhỏ, chúng ta đã bị các quan niệm về

giá trị bên ngoài chiếm hữu, trở thành nô lệ của hoàn cảnh bên ngoài mà chính mình không hay biết. Cái tôi đích thực phải là cái tôi đủ khả năng điều khiển được trái tim của chính mình khiến cho trái tim đó trở thành một trái tim biết hổ thẹn, biết khiêm tốn, biết bao dung chứ không phải là một trái tim vô cảm, kiêu ngạo, ác độc…

 Vậy thì “Cái tôi” theo Đạo Phật là thế nào?

Ngã (Atta) hay “cái Ta” gồm thể xác và tinh thần mà Đạo Phật phân tích ra làm 5 uẩn (“Uẩn” nghĩa là sự tập hợp thành một nhóm, cũng còn được gọi là “ấm” nghĩa là che mờ. Đó là vì các yếu tố ở mỗi uẩn, một khi tập hợp lại, tác động lẫn nhau rất khó cho ta phân biệt yếu tố nào trong một uẩn là yếu tố chủ động còn yếu tố nào ở một uẩn khác là yếu tố phụ thuộc). Đó là: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Sắc là nói về thân xác nghĩa là phần vật chất, 4 uẩn còn lại thuộc phần tinh thần:

1/Sắc (body) là phần vật chất mà mắt mình nhìn thấy được, chính là thân thể con người chia ra 3 phần: đầu, mình và tay chân. Sắc do tứ đại “Đất, Nước, Gió, Lửa” tạo thành :

-Đất tượng trưng cho thành phần đặc như xương, cơ, các tạng đặc, mô mềm.

 -Nước tượng trưng thành phần dịch trong và ngoài tế bào, máu, các dịch tiết…

 -Gió tượng trưng cho hơi thở, ợ, ngáp, hắt xì…

-Lửa tượng trưng cho sức nóng trong người (thân nhiệt của chúng ta trung bình là 37 độ C), chính là năng lượng do biến dưỡng thức ăn.Trung bình cơ thể con người cần 1.800 calories/ngày.

 Vậy là về phương diện Y học (cơ thể học và sinh lý học), chúng ta thấy Đức Phật đã nêu lên đầy đủ các đặc tính chính của thân thể con người.

 2/Thọ (sensation) nói về cảm giác “vui, buồn, yêu, ghét, mừng, sợ…” phát sinh khi năm giác quan tiếp xúc với sự vật bên ngoài như mắt thấy, tai nghe v…v. hoặc cảm giác “tê, nhức, đau, nóng, lạnh, dễ chịu, sung sướng” khi tiếp xúc với ngoại giới qua da. Thọ uẩn còn có thể là hình ảnh, âm thanh... còn thô sơ, nên chưa nhận ra là gì.

 3/Tưởng (perception) là sự nhận biết (tri giác) rõ hơn về những hình ảnh, âm thanh…Có những điều ta nhớ lại sau khi những gì nghe, thấy đã trôi qua.Ví dụ chiều xem kịch, tối ta tưởng tượng ra trước mắt những cảnh đã diễn ra trên sân khấu.

4/Hành (mental formations) :Trong khi tưởng uẩn là hình ảnh, màu sắc, âm thanh ta cố tưởng tượng lại sau khi đã thấy, nghe thì hành uẩn là những ý tưởng và hình ảnh tự động nổi lên trong tâm ta hoàn toàn ngoài ý muốn. Ví dụ khi ngồi lặng yên một lát, lắng nghe trong tâm, thấy nó lăng xăng nghĩ đủ thứ. Hoặc những gì xẩy ra trong chiêm bao cũng là tướng trạng của hành uẩn. Chính hành uẩn này tạo ra nghiệp báo : Có 3 thứ là thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp.

 5/Thức (consciousness): là cái biết của 6 giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Cái “thức”này là nòng cốt như có nhãn thức thì mắt ta mới thấy, có nhĩ thức thì tai ta mới nghe. Khi nhãn thức không có mặt thì mắt tuy tiếp xúc với sự vật mà không thấy…ví dụ người chết tuy còn đủ giác quan mà không biết gì nữa là vì thức uẩn đã ra khỏi thân xác.

Người ta thường gọi uẩn là thủ uẩn , vì con người bám chặt vào các uẩn đó cho nên tự gây nên khổ đau cho chính mình.

Bốn uẩn Thọ, Tưởng, Hành, Thức có liên hệ bên trong hợp thành phần tinh thần. Vậy thì “cái gọi là Ta” đâu phải là một cái gì thuần nhất mà là do duyên hợp nghĩa là do nhiều thành phần tạo nên thể xác và tinh thần của con người.

V- LÝ VÔ NGÃ TRONG TRIẾT LÝ ĐẠO PHẬT

 Giáo lý này đã được Đức Phật Thích Ca giảng tại vườn Lộc Uyển cho 5 anh em ông Kiều Trần Như sau khi Ngài giảng xong Tứ Diệu đế. Kinh Vô ngã tướng (Anatta-lakkhana sutta) kết luận bằng một câu ngắn gọn nhưng rất quan trọng:

“CÁI NÀY KHÔNG PHẢI LÀ TA,

 CÁI NÀY KHÔNG PHẢI LÀ CỦA TA,

 CÁI NÀY KHÔNG PHẢI LÀ TỰ NGÃ CỦA TA”

(Để cho dễ hiểu, xin cho phép tôi được chú thích thêm cho chữ “CÁI NÀY”: Đó chính là “Sắc, thọ, tưởng, hành, thức”, “cái thân này”, “cái thân-tâm này”, “ cái ta đây”, “cái tôi đây”. Còn “Tự ngã” ám chỉ linh hồn bất biến).

 Đức Phật muốn phá bỏ ý niệm sai lầm về bản thể của con người:

1/ Phá bỏ cái chấp thủ vào 5 uẩn, xem đó là Ta như đang có tấm thân nguyên thuần một khối. Đức Phật muốn chúng ta đừng xem 5 uẩn này là Ta (không có cái tướng Ngã: Vô ngã tướng) chứ Ngài không bảo là phải diệt 5 uẩn này (như một vài đệ tử hiểu sai nên tự hủy hoại mình).

2/ Phá bỏ cái chấp thủ có một Tự ngã, một linh hồn vô hình bất diệt. Tuy nhiên, Đạo Phật khẳng định là có thần thức (gồm Mạtna thức và Alạida thức), vô hình nhưng không bất diệt ( mà là thay đổi do duyên hợp) và giúp cho sự tái sinh và chuyển nghiệp báo từ đời này qua đời khác.

VÔ NGÃ ở đây có nghĩa là “KHÔNG PHẢI LÀ TA” (not self) chứ không có nghĩa là “KHÔNG CÓ TA hay KHÔNG CÓ GÌ CẢ” (no self).

 Vậy chữ ANATTA phải được dịch là PHI NGÃ (không phải là ta) đúng hơn VÔ NGÃ (không có ta). Đây chỉ là do sự nhìn lầm (thiếu Chánh kiến) như nhìn dây thừng trong bóng tối lại tưởng là con rắn. Khi đèn sáng lên thì rõ ràng là dây thừng chứ không phải “không có gì cả”.

 Theo Đạo Phật, Vô ngã đồng thời cũng là một cách nhìn khác của lý duyên khởi, lý này bao trùm vũ trụ và làm cho mọi hiện tượng liên đới mật thiết với nhau. Không có cái gì có thể được coi là một thực thể tách rời khỏi các thực thể khác được. “Cái gọi là Ta” chỉ là giả tạm, do duyên hợp mà có, thay đổi thường xuyên theo luật vô thường và khi hết duyên thì sẽ tan rã vì nếu thật là có Ta (Ngã) thì phải có đủ ba yếu tố: đồng nhất, bất biến và có chủ thể.

1/ Xét về không gian, “cái gọi là Ta” không đồng nhất :

 a/Về thể xác, các thành phần đất, nước, gió, lửa chỉ là do vay mượn từ bên ngoài bằng chứng là những thức ăn sau khi vào miệng sẽ được nghiền nát rồi tiêu hoá, cuối cùng các chất bã được thải ra ngoài. Còn không khí hít vào phổi, sau khi đã diễn ra sự trao đổi dưỡng khí với thán khí thì sẽ được thải ra ngoài. Mỗi ngày, ta hít thở 26.000 lần và cần một lượng không khí là 12.000 lít. Rồi cái vòng đó lại tiếp diễn. Vậy có cái gì thật sự là của mình đâu? Đó chỉ là sự vay-trả, trả-vay mà thôi.

 b/Về tinh thần, các ý kiến cho là mình nghĩ ra thật tình có phải của chính mình không hay là do vay mượn từ nhiều người rồi mình thêm thắt vào. Điều này thấy rất rõ trong các bài giảng, các luận văn. Tuy nhiên, tôi không phủ nhận có những nghiên cứu khoa học kỹ thuật có tính sáng tạo, những phát minh làm thay đổi cuộc sống con người.

2/Xét về thời gian, "cái gọi là Ta" không bất biến:

 a/Về thân xác, khi gặp mặt người quen hàng ngày, ta thấy không có sự khác biệt. Nhưng nếu gặp lại người thân sau trên chục năm xa cách thì đó lại là chuyện khác. Ta chỉ cần giở quyển “album” gia đình ra xem lại chính mình lúc mới vài tháng tuổi, rồi lúc 20 tuổi, 40 tuổi, 60 tuổi thì ta thấy khác nhau rất nhiều.

hinh 1

Vậy trong 4 hình đây, KHOÁNG là ai?

 Nếu bảo là tất cả đều là KHOÁNG thì vô lý vì KHOÁNG chỉ có một người mà thôi. Còn nếu bảo chẳng có ai trong 4 hình này là KHOÁNG thì lại càng sai vì rõ ràng đây là hình chụp một người qua nhiều thời kỳ khác nhau. Trong một giây đồng hồ, bao tế bào chết đi thì lại có bao tế bào được sinh ra. Thân xác của chúng ta thay đổi liên tục.

 b/Về tinh thần, khi bắt đầu tập ngồi thiền, chúng ta thấy có biết bao suy nghĩ lướt qua trong đầu chúng ta. Có những ý nghĩ mà ta quyết như “đinh đóng cột” nhưng sau khi tự mình xét lại hoặc bị người khác thuyết phục, ta quay ngoắt lại 180 độ.Vậy thử hỏi cái Ta nó ở đâu?

 3/Xét về chủ thể, ta không làm chủ được mình:

 Nếu nói cái Ta có thực thì ta phải làm chủ nó, ta phải điều khiển nó theo ý muốn của ta. Nhưng thật sự có phải vậy không?

 Nếu ta là chủ của thân xác thì ta có thể bảo trái tim ngưng đập một lát không, các quai ruột không co bóp nữa, dòng máu xoay theo hướng khác hoặc tạm ngưng chảy được không?

Nếu ta là chủ của thân xác thì :

- ta muốn cơ thể mãi mãi trẻ trung nhưng sao nó lại cứ già đi?

- ta muốn cơ thể luôn luôn khoẻ mạnh nhưng sao nó lại cứ bệnh hoạn?

- ta muốn sống mãi mãi nhưng sao nó lại chết?

Vậy thì cái Ta chính là cái ý thức (chứ không phải là một thực thể vật chất) về thân- tâm qua tất cả các hành động của thân, khẩu, ý. Chính những hành động này làm con người sống động và được các người chung quanh biết đến và cũng chính những hành động của thân, khẩu, ý tạo thành nghiệp thức chẳng những ảnh hưởng ngay trong kiếp hiện tại mà còn có hậu quả đến việc tái sinh trong tương lai theo định luật bất biến Sinh tử-Luân hồi.

Tóm lại, cái Ta:

* Về không gian, chỉ là tập hợp của ngũ uẩn, gồm những chất nạp vào và thải ra giữa bên trong với bên ngoài cơ thể, không hề có một thực thể thuần nhất.

* Về thời gian, thân thể cũng như tinh thần của ta thay đổi liên tục.

* Không hề có một chủ thể.

Đây chính là Lý VÔ NGÃ của Đạo Phật.

 Để dễ hiểu, ta nên phân biệt 3 “cái ta”:

1/ Thế nào là “cái ta tương đối”? Cái ta tương đối là một danh từ giả lập để chỉ năm uẩn. Mỗi khi năm uẩn hợp lại thì gọi đó là ta (ngã), nó là một danh từ quy ước để xưng hô và chỉ định sự khác biệt giữa từng cá nhân trong cộng đồng. Thí dụ khi đi chợ, bạn nói :"Tôi đi chợ". Cái tôi (ta) này thuộc loại giả lập, vì thực tế có một cái thân này đi chợ chứ không phải cái thân của người khác đi chợ và cái ta được chỉ định trên cái thân này liên quan và tùy thuộc vào thân.

2/ Thế nào là « cái ta ảo tưởng» hay « cái ta giả »? Thí dụ như có ai chửi bạn, bạn sẽ cảm thấy khó chịu, tức tối : "Tại sao nó chửi Tôi?" Chính ngay lúc đó, nếu để ý, bạn sẽ thấy có một cái Tôi (Ta) hiện hữu «hình như » độc lập không ăn nhằm gì đến thân hay tâm cả! Cái Tôi (Ta) đó bị chửi, bị tổn thương chứ không phải cái tâm hay thân bị chửi. Người ta đâu có chửi thân tôi, đâu có chửi tâm tôi, người ta chửi "Tôi" mà! Cái tôi này chính là « cái ta ảo tưởng », cũng giống như « cái ta tương đối » ở trên, không có tự thể, nhưng phải nhìn sâu mới thấy được. Chính cái Ta này được mọi người nhận lầm là Ngã . Cái Ta này thật ra không có, nó chỉ là một ảo tưởng, một lầm chấp.

Thật ra, có hay không có cái Ta không phải là vấn đề quan trọng mà chính là không nên dính mắc vào cái ta "ảo tưởng" vì nó là nguồn gốc của khổ đau. Chính sự không dính mắc này sẽ đưa đến sự diệt khổ đau tức là đến giải thoát.

3/ Thế nào là cái Ta tuyệt đối? Cái Ta tuyệt đối là cái ta tự nó hiện hữu độc lập, có tự thể, không lệ thuộc vào năm uẩn, thường còn, bất biến, nó hiện hữu như là chủ của năm uẩn, điều khiển năm uẩn. Cái ta tuyệt đối này chính Kinh Phật gọi là Chân Tâm, Phật Tánh, Bản lai diện mục...

Tóm lại :

1/ « Cái Ta tương đối » dùng trong giao tiếp với người khác.

2/ « Cái ta ảo tưởng hay cái ta giả » mà mọi người tưởng lầm là cái ta thật như trong câu chuyện ngụ ngôn « dê và sư tử » mà tôi sẽ kể ở phần sau. Sư tử con tưởng lầm mình là dê. Chính vì chấp vào cái ta này mà con người bị trôi lăn trong vòng sinh tử luân hồi.

3/ « Cái Ta tuyệt đối » là bộ mặt nguyên thủy mà chúng ta nhận ra khi ngộ Đạo. Chính là lúc sư tử con nhìn vào dòng suối nhận ra mình là sư tử chứ không phải là dê. Cái Ta thật, Đức Phật gọi là Phật tánh mà mỗi chúng sinh đều có nhưng rất ít người dám tin, dám nhận. “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”, đây có thể được xem như một lời tuyên bố vô cùng quý giá mà Đức Phật đã ban cho chúng ta để chúng ta trở về với chân giá trị của mình.

Chúng ta thuộc dòng dõi sư tử chứ không phải thuộc loài dê như trong câu chuyện ngụ ngôn Ấn Độ sau đây:

 <Có một sư tử cái chết bên bờ suối sau khi sinh con. Sư tử con được nuôi chung với đàn dê đến lúc trưởng thành mà vẫn cứ tưởng mình là dê. Một hôm, sư tử chúa khát nước đến bờ suối.Thằng chăn dê và bày dê chạy trốn, còn lại một mình sư tử con ngơ ngác kêu : be,be…Sư tử đực vừa ngạc nhiên vừa tức giận đến bên sư tử con và nói: “Mày không phải là dê, mày là sư tử !” Sư tử con luôn miệng kêu: “be,be”. Sư tử chúa ngoạm vào gáy, lôi sềnh sệch sư tử con đến bờ suối và dí nó sát mặt nước và nói: “Hãy nhìn kỹ xem mày là ai?” Sư tử con soi mặt mình và gầm lên một tiếng. Chúa sơn lâm đã hiện hình!>

 Câu chuyện trên muốn nói là mỗi chúng ta thuộc dòng dõi Phật nhưng lại cứ tưởng mình là chúng sanh. Đức Phật đã chỉ cho chúng ta cách thành Phật để ta sống với con người thật của mình. Chỉ cần chúng ta thực lòng muốn điều đó và nỗ lực thực hiện mà thôi! Kinh Phật phủ nhận « cái ta ảo tưởng » chứ không phủ nhận « cái ta tương đối » và « cái Ta tuyệt đối ».

 

VI – LỢI ÍCH CỦA LÝ VÔ NGÃ

 Vô ngã là một trong 3 pháp ấn của Phật giáo nguyên thủy ( pháp ấn là dấu chỉ điểm lời Đức Phật dạy): Vô ngã- Vô thường -Khổ.

Đây là một trong các giáo lý căn bản của Đạo Phật độc nhất vô nhị vì không có tôn giáo nào trên thế giới này lại phủ nhận cái Ta như Đạo Phật cả. Đức Phật muốn phá bỏ cái chấp Ngã của chúng ta vì những lý do sau đây:

1/ Mặc dù Chấp ngã nghĩa là tin “cái ta là thật” có một số ưu điểm như nhờ có cái Ngã mà con người mới phấn đấu, xã hội mới tiến bộ nhưng cũng chính cái Chấp ngã này đã đem lại bao nhiêu đau khổ, phiền toái cho mỗi chúng ta, cho cả nhân loại. Tại sao vậy?

* Về cá nhân, nếu ta chấp vào cái Ta nghĩa là xem cái Ta có thật, cái Tôi to lớn (vì tự đồng hoá mình với danh xưng, chức vụ, địa vị trong xã hội …) thì nếu ai động chạm tự ái của ta như nói xấu, mắng nhiếc…thì ta sẽ nổi sân lên. Chính vì quan niệm rằng mình có một cái tôi thật sự khác biệt với mọi người nên mình muốn (cả ta và chính người thân của ta) hơn người khác về mọi mặt như học giỏi hơn, địa vị cao hơn, giàu có hơn…Chỉ vì lòng tham, sự ích kỷ mà ta bất chấp mọi thủ đoạn để đạt được những điều đó.

*Về tập thể, vì chấp cái này là ta, cái này là của ta nên có sự kình chống giữa phe này với phe kia, tôn giáo này với tôn giáo kia, quốc gia này với quốc gia kia.

 Vậy là không phải là ta chối bỏ cái ta (mà làm sao chối bỏ được?) mà là giảm thiểu chỗ đứng của nó trong ý thức mình, bớt tham lam, ích kỷ, cố gắng nghĩ đến đến người khác nhiều hơn và nghĩ đến mình ít hơn một chút.

 2/ Suy từ lý Vô ngã, chúng ta hiểu là vạn vật trên thế gian này chỉ do duyên hợp, biến chuyển không ngừng cho nên sự vật không duy trì được tính cách đồng nhất tuyệt đối của nó. Đứng về không gian, sự vật là vô ngã. Đứng về thời gian, sự vật là vô thường.

 Đàn ông cũng như đàn bà có khác gì bông hoa. Lúc bông hồng mới là búp thì trông thật dễ thương, rồi từ khi bắt đầu nở cho đến khi nở rộ thì trông thật kiêu sa, lộng lẫy với mùi hương thoang thoảng khiến ta ngất ngây. Sau đó các cánh hoa thâm lại và nhăn nheo với mùi chát chát để cuối cùng cành hoa rũ xuống , các cánh hoa rụng dần. Đây là luật thành-trụ-hoại-không của tạo hoá, không ai tránh khỏi ! Hiểu được rõ ràng như vậy, ta mới không bị động tâm, không buồn khổ khi lẽ vô thường ứng dụng trên ta. Có đó rồi mất đó.

 Cuộc đời có khác gì giấc mộng Nam Kha, như một tấn tuồng gồm đủ hỉ, nộ, ái, ố mà ta vừa là diễn viên,vừa là khán giả. Chức vụ mà ta được giao có khác gì một màn kịch mà ta đóng vai giám đốc, bộ trưởng, thủ tướng, tổng thống trong 5 hay 10 năm…Khi hạ màn thì ta lại là thường dân. Nếu ta cố chấp vào cái vai đó, tưởng nó là thật, là vĩnh viễn thì khi mất nó, ta sẽ rất đau khổ.

3/ Tất cả mọi người, dù sang hèn, giàu nghèo, mạnh yếu, đẹp xấu…đều bình đẳng trước cái chết. Chúng ta đều mang bản án tử hình, chỉ có khác nhau về thời gian thi hành án mà thôi. Chúng ta như những tử tù cùng bị nhốt chung trong ngục thất. Thay vì thương nhau, chia sẻ cho nhau những thực phẩm mà người nhà gửi vào, giúp đỡ nhau những lúc bệnh hoạn, an ủi nhau những lúc bị suy sụp tinh thần thì có người lại chia phe phái, gọi nhau là đại bàng, đánh nhau, gây đau khổ cho nhau. Thật là đáng buồn! Như Kinh Pháp Hoa đã nói, thế giới này như cái nhà đang cháy mà chúng sinh như những trẻ nhỏ cứ nô đùa hoặc cãi nhau, tranh dành những đồ chơi. Vậy thái độ đúng đắn nhất là thương nhau, tha thứ cho nhau, giúp nhau thoát khỏi cái “nhà lửa” này, nhà Tam giới (Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới) nghĩa là thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử.

4/ Đề xướng Vô ngã không phải để hư vô hoá con người, xoá bỏ sự có mặt của con người trong cuộc đời, trái lại kết hợp chủ thể với tha nhân, xoá bỏ biên giới cách biệt giữa người với người, trải rộng lòng từ bi đến tất cả chúng sinh. Vô ngã cũng là một định luật làm cho tất cả các hiện hữu trong vũ trụ liên đới chặt chẽ với nhau.

 Đa số chúng ta chấp vào Ngã nhưng có một số ít lại chấp vào Vô Ngã. Họ nghĩ rằng Phật nói vạn pháp do duyên hợp nên không có gì là thật cả, chết là hết thì dại gì mình không hưởng thụ bằng mọi cách, kể cả việc giết hại người khác. Đời chỉ như giấc chiêm bao, không có linh hồn, không có nghiệp báo, có gì mà phải sợ. Nhưng họ phải hiểu rằng nếu có nhân “giả” thì cũng có quả “giả” và trong mộng họ vẫn phải trả những quả báo này, họ vẫn phải nếm mùi đau khổ trong cảnh mộng, không chạy đi đâu được cả.

5/ Khi thuyết về lý Vô Ngã, Đức Phật không muốn chúng ta chấp vào Không vì như vậy còn tệ hơn chấp vào Có, mà ngài chỉ muốn chúng ta thấy đúng bản chất của Ngã để đừng bị dính mắc. Khi thấy được bản chất của sự vật là duyên khởi thì ta thấy nó không có tánh chân thật, là có hay là không. Do đó, chúng ta không chấp vào có Ngã và cũng không chấp vào Vô Ngã, sự không chấp này được gọi là Trung Đạo, còn gọi là “Đệ nhất nghĩa Không”.

Trung Đạo nghĩa là “không Có cũng không Không”. Trung Đạo không có nghĩa là tổng hợp giữa cái Có và cái Không, mà là sự siêu việt khỏi thế giới khái niệm. Trung Đạo không có nghĩa là trung gian giữa sự Có – Không,Thường-Đoạn, Sanh-Diệt, Khổ-Vui mà có nghĩa là vượt lên khỏi các cực đoan ấy, ra ngoài vòng tương đối sai biệt để hiển lộ thể Chân Không Diệu hữu, dứt bặt sự suy nghĩ và lời nói.

Thực tại vượt thoát bốn ý niệm: Có, Không, Thường, Đoạn. Đây là lý Bất nhị trong kinh Duy Ma Cật. Ý nghĩa siêu việt trong Trung Đạo là thái độ vô chấp, vô trụ, tức là không bị lệ thuộc vào một định kiến nào, không bị đóng khung trong một phạm trù tư tưởng nào.Trung Đạo là làm mà không bị dính mắc vào Có và Không: Cần dùng Ngã để phấn đấu, để cạnh tranh cho khoa học được tiến bộ hơn, cho đời sống được ấm no hơn nhưng không nên bị kẹt vào cái Ngã đó để chỉ nghĩ đến bản thân mình mà nên ứng dụng Vô Ngã để xoá bỏ ranh giới giữa ta và người, để thêm bạn bớt thù, để đem lại hạnh phúc cho mọi người trên thế gian này.

VII- LÀM THẾ NÀO ĐỂ CÓ BÌNH AN TRONG CUỘC SỐNG?

 Để có được bình an trong cuộc sống, theo tôi, hãy làm những bước sau đây: A/ QUÁN CHIẾU LẼ VÔ THƯỜNG CỦA ĐỜI SỐNG, XEM CUỘC ĐỜI NHƯ GIẤC MỘNG

 Vạn vật trên thế gian này luôn chuyển động không ngừng, do đó thay đổi thường xuyên và có ngày phải tan rã. Mặc dù biết đời là mộng nhưng chúng ta vẫn phải có bổn phận tránh làm các điều ác, nên làm các điều lành vì “nhân giả nhưng cũng có quả giả” và nghiệp báo sẽ theo ta như bóng với hình ngay trong giấc mộng. Để áp dụng trong việc sửa mình cho thật tốt, chúng ta nên nhớ lời một bậc Thầy Mật tông đã dạy: “Hãy luôn luôn nhận thức rõ ràng tính mộng huyễn của cuộc đời để giảm bớt luyến ái và thù ghét. Hãy có tâm tốt đối với mọi loài, có tâm thương xót bất kể kẻ khác đối xử với bạn ra sao. Những gì người khác làm đối với bạn không quan trọng khi bạn xem chúng là mộng huyễn. Cái chính là bạn phải có những ý định tốt trong giấc mộng , đây là điểm cốt yếu. Đây đích thực là tu tâm.” Xem cuộc đời như giấc mộng, không phải là ta buông xuôi, mặc kệ, thậm chí là sống luông tuồng, vô trách nhiệm; trái lại ta vẫn sống đầy trách nhiệm với chính mình, với gia đình mình, với xã hội .

B/ ĐỪNG XEM CÁI TÔI MÌNH TO QUÁ

 Khi đưa ra lý Vô ngã, Đức Phật không phải bảo chúng ta xoá bỏ cái thân này mà chỉ muốn chúng ta đừng có chấp vào nó, cho rằng nó có thật để bị dính mắc vào tham và sân.

*Đừng tự đề cao mình quá vì mình còn nhiều hạn chế:

-Mình chịu sự chi phối bởi luật của tạo hoá: sinh, lão, bệnh, tử.

-Hiểu biết của mình còn nhiều hạn chế.

-Hãy khiêm tốn, đừng quan trọng hoá mình quá.

*Mình cũng có thể phạm lỗi như mọi người, do đó mình nên thông cảm, bao dung, tha thứ lỗi lầm của người khác.

*Thấy đời là giấc mộng, thấy mình là vô ngã thì ta sẽ tránh được “stress” vì tám ngọn gió (bát phong) không lay chuyển được ta:

-ĐƯỢC: được tài lợi, tâm không xao xuyến

-MẤT: bị thiệt hại, lòng vẫn thản nhiên

-KHEN: được công kênh, tâm vẫn như không

-CHÊ: bị hủy nhục, lòng không bực tức

-VINH: được ngợi khen, tâm vẫn bình thản

-NHỤC: bị chê bai, lòng không biến đổi

-VUI: được việc vui, tâm không xao động

-KHỔ: gặp khổ đau, lòng vẫn an nhiên.

 C/HÃY THƯƠNG YÊU TẤT CẢ CHÚNG SINH

 Thấy rõ được lẽ vô thường không chừa một ai, ta hãy thương mọi người vì họ cùng cảnh ngộ với mình. Cuộc đời như tấm gương phản chiếu vì khi mình mỉm cười thì trong gương cũng cười lại còn nếu mình giơ nắm đấm lên thì trong gương cũng giơ nắm đấm lại. Trong Đạo Phật có một câu rất hay: “Muốn biết kiếp trước người đó thế nào thì hãy xem kiếp này của họ, Muốn biết kiếp sau người đó thế nào thì hãy xem họ sống ra sao trong kiếp này.” Vậy ta là chủ vận mệnh của mình, hạnh phúc hay đau khổ là do chính ta quyết định chứ không do bất cứ một ai khác, một đấng nào khác. Vì thế, ta nên giữ ý nghĩ, lời nói, việc làm trong sạch để tạo những nghiệp tốt.

 Từ 3 nhận thức trên đây, ta hãy để Tâm mình buông xả, không chấp vào một điều gì, không dính mắc vào bất cứ cái gì. Xả ở đây xuất phát từ sự hiểu biết, niềm cảm thông, lòng bao dung. Xả là lòng an tịnh, quân bình, không phân biệt người với mình. Cái tôi càng nhỏ thì tâm xả càng trọn vẹn:

-Từ tâm xả này, ta sẽ có tâm hỷ nghĩa là vui với cái vui của người khác thay vì có tâm ganh ghét một cách nhỏ nhen.

-Từ tâm xả này, ta sẽ có tâm bi nghĩa là thương những người nghèo đói, bị bệnh tật, gặp hoạn nạn, đau khổ về thể xác và tinh thần.

-Từ tâm xả này, ta sẽ có tâm từ nghĩa là thương yêu tất cả mọi người, mọi sinh vật một cách không phân biệt, thậm chí đến cả cỏ cây.

 

VIII- KẾT LUẬN

 Vậy cách giải thích của Pascal về gốc của « cái Tôi đáng ghét » là do « tự ái » và của Đức Phật về « Kẻ thù lớn nhất đời người là chính mình » là do « chấp ngã » không khác nhau là bao, chung quy cũng chỉ vì ích kỷ mà đối xử tệ bạc với người khác.Tuy nhiên, Đức Phật phân tích sâu hơn và đề ra “lý vô ngã” để giải thích chính sự CHẤP NGÃ là căn nguyên của mọi vấn đề.

 Ta nên chuyển hóa cái tôi riêng tư thành vô ngã, chuyển cái tôi hẹp hòi ích kỷ thành cái tôi công đức như một vị Thầy đã nhắn nhủ: “Hướng chúng sinh đi, hướng chúng sinh đi, để làm Phật sự không đối đãi” (nói cho dễ hiểu là khi làm một việc gì cũng hướng về lợi ích của chúng sinh thì mình sẽ không còn tâm phân biệt ta với người). Vô ngã là một sự thật mà Đức Phật đã ngộ ra nên Ngài đã khuyên dùng làm phương pháp tu tập nhằm giải thoát khỏi khổ đau do chấp ngã gây nên. Nói như lời cụ Nguyễn Duy Cần trong quyển Phật học tinh hoa:

<Đó là diệt cái nhận thức mê lầm của Ngã chấp. Chỉ có thế thôi, thật là hết sức đơn giản ! Cái mà gọi là ta, không phải là không có (như cái mà gọi là con rắn, đâu phải là không có). Không có con rắn thật nhưng có sợi dây thừng thật, nên gọi là "phi hữu, phi không". Bảo là con rắn thì sai nhưng bảo là không có gì cả cũng sai: rằng có là sai mà rằng không cũng là sai, tức là cái nghĩa: "Có mà Không, Không mà Có". Tóm lại, cái ta không có thật nhưng khi mê thì thấy là ta, khi ngộ thì lại là Bản thể Tâm, là Phật Tánh>.

 Thấu hiểu lý Vô ngã, ta không chán ghét mọi sự mà là tiếp xử vạn vật với Tuệ giác, nghĩa là với thái độ không tham đắm và không dính mắc.Ta giữ được tâm bình thản trước mọi thay đổi bất ngờ: Ta không tuyệt vọng vì những bất hạnh chẳng may xẩy ra với chúng ta cũng như không quá phấn kích vì những may mắn bất ngờ đến với chúng ta. Chúng ta hiểu đó chỉ là màn kịch tạm thời ở đời, chỉ là một giấc mộng mà dù là ác mộng hay giấc mơ đẹp thì không thể kéo dài vô tận được. Vấn đề là ta phải tỉnh cơn mộng đời này để sống với cái Ta chân thật, với Phật tánh, từ đó ta không còn bị lệ thuộc vào vòng luân hồi-sanh tử nữa.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Kinh Vô ngã tướng (Anatta-lakkhana sutta) trong “Căn bản học Kinh Phật” của cư sĩ Thiện Nhựt- Huỳnh Hữu Hồng.

2.Thân tâm và ta, bài thuyết trình tại Tổ đình Từ Quang, Montreal, tháng7/2008 của cư sĩ Thiện Nhựt- Huỳnh Hữu Hồng.

3. Tâm và Ta , ĐĐ Thích trí Siêu.

4. Đức Phật và Phật pháp, Đại Đức Narada, Cư sĩ Phạm Kim Khánh dịch.

5. Phật học tinh hoa, Thu Giang Nguyễn Duy Cần.

6. Tìm lại chính mình, HT. Thích Thánh Nghiêm.

7.Trung Đạo về Bản Ngã, Thường Hỷ Lê Niên.

8. Duy Ma Cật sở thuyết kinh,Tỳ kheo Thích Duy Lực dịch và giảng.

9. Vài ý kiến về Vô Ngã, BS Trịnh Đình Hỷ.

10. L'enseignement central du Bouddhisme: La production conditionnée et le non-soi, BS Trịnh Đình Hỷ.

Download